
Mặt trời vừa lặn tại Bêtania thì một người từ trong bóng tối bước ra và tiến đến cửa nhà của ông Simôn, người mắc bệnh phong. Một người phụ nữ bất ngờ bước vào căn phòng nơi bữa tiệc đang diễn ra, trong những ngày chuẩn bị mừng lễ Vượt qua của người Do Thái. Bà tiến thẳng về phía một vị khách, tay cầm một bình bạch ngọc. Bà mở nắp và đổ thứ dầu thơm quý giá lên đầu người ấy, khiến những người hiện diện tỏ ra bất bình. Nhưng chính Đấng đón nhận món quà bất ngờ ấy đã bênh vực bà: “Cô ấy vừa làm cho Thầy một việc nghĩa.” Vì thế, Đức Giêsu Nadarét đã hứa: “Hễ Tin Mừng này được loan báo bất cứ nơi nào trong khắp thiên hạ, thì người ta cũng sẽ kể lại việc cô vừa làm mà nhớ tới cô (Mt 26,6–13).
Với cử chỉ chăm sóc mang tính ngôn sứ và đậm nét nữ tính ấy, Đức Giáo hoàng Lêô đã chọn mở đầu Tông huấn Dilexi Te, văn kiện đầu tiên của triều đại giáo hoàng của ngài, bàn về tình yêu dành cho người nghèo. Hành động hoàn toàn bất ngờ và nhưng không của người phụ nữ vô danh, thầm lặng ấy đã diễn tả cách hùng hồn lý do vì sao tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với người nghèo được liên kết chặt chẽ với nhau và không thể tách rời. Đức Giáo hoàng viết rằng nơi những người bé mọn và không có quyền lực, Thiên Chúa vẫn tiếp tục nói với chúng ta. Phạm trù này hết sức rộng lớn và đa dạng. Tông huấn viết, “Có nhiều hình thức nghèo đói: đó là sự nghèo đói của những người thiếu thốn các phương tiện sinh tồn vật chất; sự nghèo đói của những người bị gạt ra bên lề xã hội và không có khả năng cất lên tiếng nói cho phẩm giá và khả năng của mình; sự nghèo đói luân lý và thiêng liêng; sự nghèo đói văn hóa; sự nghèo đói của những người sống trong tình trạng yếu đuối hay mong manh về phương diện cá nhân hoặc xã hội; sự nghèo đói của những người không có quyền lợi, không có chỗ đứng, không có tự do.”
Xuyên suốt dòng lịch sử, yếu tố nữ tính luôn giao thoa với tất cả những thực tại ấy. Bên cạnh những hình thức phân biệt phát sinh từ sự phân tầng xã hội, điều kiện kinh tế, sắc tộc và niềm tin tôn giáo, phụ nữ còn phải đối diện với một dạng loại trừ bổ sung và đặc thù, do thuộc về một giới tính từng bị coi là “kém giá trị”, “thứ yếu” và/hoặc “phụ thuộc”. Những định kiến này hoàn toàn chưa biến mất; trái lại, tại nhiều nơi trên thế giới, chúng còn được luật pháp hợp thức hóa hoặc được biện minh như một phần của truyền thống. Đức Thánh cha Lêô viết: “Trong khi tại một số quốc gia đang diễn ra những thay đổi đáng kể, thì việc tổ chức xã hội trên phạm vi toàn cầu vẫn còn rất xa mới phản ánh rõ ràng rằng phụ nữ có cùng phẩm giá và các quyền lợi như nam giới.” Ngài viết tiếp: “Chúng ta nói một đằng bằng lời nói, nhưng các quyết định và thực tại lại kể một câu chuyện khác, đặc biệt khi nhìn vào con số rất lớn những phụ nữ thực sự đang sống trong cảnh cùng quẫn.”
Theo ngôn ngữ của Dilexi Te, Thiên Chúa nói gì với thế giới hôm nay qua những người phụ nữ bị gạt ra bên lề, bị xâm phạm cả thân xác lẫn tinh thần, và còn bị xé nát cách tàn khốc hơn nữa bởi chiến tranh và những thảm họa được gọi là “thiên nhiên”? Những hình thức loại trừ phụ nữ, cũ cũng như mới, đang chất vấn nhân loại và các cộng đoàn Kitô hữu trong thế kỷ XXI như thế nào? Nếu người nghèo là “của chúng ta”, như Robert Prevost “Mỹ–Peru” đã mượn cách diễn đạt của tiếng Tây Ban Nha để nói, thì trước những bất công đang đè nặng trên “những người thuộc về chúng ta”, liệu Giáo hội có thể ngoảnh mặt làm ngơ không? Rõ ràng là không. Tuy nhiên, phụ nữ, từ chính kinh nghiệm sống của mình, không chỉ là đối tượng của sự phân biệt đối xử. Họ sống ở những vùng ngoại biên, không phải do lựa chọn, nhưng do bị ép buộc, và đã buộc phải biến những không gian ấy thành những miền tự do, nơi họ phát triển óc sáng tạo, trí tưởng tượng, sự kiên nhẫn và khả năng kiên cường. Họ bị thúc ép phải sáng tạo những ngôn ngữ mới để có thể tiếp tục diễn tả chính mình, và thực hiện những hành động bất ngờ nhằm vượt qua những giới hạn mà họ không thể trực tiếp phá vỡ. Những hành động như việc làm của người phụ nữ vô danh trong nhà ông Simôn, người mắc bệnh phong. Đây không phải là một cử chỉ mang tính hình thức nhằm biện minh hay củng cố hiện trạng. Nghèo đói và áp bức, dưới bất cứ hình thức nào, không tồn tại cách ngẫu nhiên hay như một “số phận mù mịt và cay nghiệt”, nhưng là hệ quả của những “cơ cấu tội lỗi”. Robert Prevost, xuất thân từ Hoa Kỳ, không chỉ vay mượn khái niệm này từ Giáo hội Mỹ Latinh; bởi lẽ, ngài tự nhận mình là con cái của truyền thống ấy. Ngài nói: “Về phần tôi, sau nhiều năm phục vụ với tư cách là nhà truyền giáo tại Peru, tôi mang ơn sâu xa tiến trình phân định của Giáo hội này, một tiến trình mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã khôn ngoan gắn kết với tiến trình của các Giáo hội địa phương khác, đặc biệt là các Giáo hội ở Nam bán cầu.”
Vị Giáo hoàng của hai châu Mỹ đọc lại và làm phong phú hành trình của các Hội đồng Giám mục Tân Thế giới sau Công đồng, một hành trình mà vị tiền nhiệm người Argentina của ngài đã mang vào trung tâm đời sống Công giáo. Đức Giáo hoàng Lêô XIV thực hiện điều đó vì ngài ý thức sâu xa rằng mình thuộc về tiến trình ấy, nhưng đồng thời cũng bước vào tiến trình ấy từ một góc nhìn khác - góc nhìn của một người láng giềng phương Bắc. Có lẽ đây là một trong những khía cạnh đáng chú ý nhất của Tông huấn, nơi mà chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo hàm ý việc nhìn nhận những “trực giác độc đáo, không thể thiếu đối với Giáo hội và đối với toàn thể nhân loại” của họ, bởi vì “thực tại được nhìn rõ nhất từ những vùng ngoại biên”. Vì lý do đó, những “người rốt hết” trở thành động lực của một dòng lịch sử chảy xuyên qua kết cấu của lịch sử chính thức, được dệt nên bởi quyền lực và những người nắm quyền, và họ làm mới dòng lịch sử ấy. Yếu tố nữ tính, như sự tổng hợp của nhiều “người rốt hết”, chiếm giữ một vị trí đặc biệt trong lịch sử ấy. Tông huấn Dilexi Te làm nổi bật một số nhân vật tiêu biểu: những nữ tu đã tự tay thiết lập các trung tâm y tế để chăm sóc những bệnh nhân bị mọi người bỏ rơi, bằng tất cả những gì họ có trong tầm tay. Chẳng hạn như các Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô, các Nữ tu Bệnh viện, các Tiểu muội Quan phòng, và các Nữ tu Bệnh viện Thánh Tâm Chúa Giêsu. Những hội dòng nữ đã dẫn dắt cuộc cách mạng giáo dục của thế kỷ XIX, như dòng Ursula, các Nữ tu của Hội Đức Maria, và các Nữ tu Dòng Piarist. Thánh Clara Assisi, với đời sống ẩn dật và cầu nguyện, đã trở thành một tiếng kêu chống lại tinh thần thế tục và là sự bảo vệ thầm lặng cho những người bị lãng quên. Thánh Frances Xavier Cabrini, người không ngại nhiều lần vượt Đại Tây Dương để đồng hành với người di dân. Thánh Katharine Drexel, người dấn thân đứng về phía các nhóm thiểu số bị lãng quên tại Bắc Mỹ. Nữ tu Emmanuelle, người đã sống bên cạnh những người nhặt rác tại khu Ezbet El Nakhl ở Cairo. Chị Dulce của Brazil, người khởi đi từ một chuồng gà để xây dựng nên một trong những công trình xã hội lớn nhất đất nước. Và dĩ nhiên, danh sách này sẽ không trọn vẹn nếu thiếu tên của Mẹ Têrêsa Calcutta, biểu tượng toàn cầu của đức ái được sống đến mức triệt để.
Đức Lêô không biến những người tiên phong ấy thành các nhân vật thánh thiện được đặt trong khung cửa kính. Sức mạnh biến đổi của họ vượt lên trên tính cá nhân, trở thành một kinh nghiệm quý giá được chia sẻ. Chính vì thế, trong công trình kiến tạo những ốc đảo của lòng nhân ái giữa sa mạc của sự phi nhân hóa, xuyên qua các không gian và thời đại khác nhau, Đức Giáo hoàng đặt các phong trào quần chúng vào trung tâm. Ở đây, ngài nói đến những nhóm người nghèo từ chối cam chịu số phận, những người mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã tìm cách đối thoại trong suốt triều đại của ngài. Những “thi sĩ xã hội”, một thuật ngữ do Jorge Mario Bergoglio khởi xướng và được Prevost tiếp nhận, không chỉ mơ ước về sự đổi thay; họ kiến tạo sự đổi thay ấy bằng sự bền bỉ của đôi bàn tay chai sạn. Cùng nhau, họ bắt đầu từ những nguồn lực ít ỏi còn sót lại cho họ bởi một nền kinh tế không dành chỗ cho họ. Đó là các tổ chức của người bán hàng rong, người đánh giày, người thu gom rác tái chế, lao động tay chân và những người làm công việc gia đình theo thời vụ: theo Tổ chức Di cư Quốc tế, đây là một “đạo quân” khoảng hai tỷ người. Trong phong trào này, phụ nữ là trụ cột nòng cốt.
Đức Giáo hoàng viết: “Đã có, và vẫn đang có, nhiều phong trào quần chúng được hình thành bởi các giáo dân và được những người lãnh đạo xuất thân từ quần chúng dẫn dắt. Những phong trào này thường bị nhìn với ánh mắt nghi ngờ, thậm chí còn bị bách hại”. Những phong trào ấy “mời gọi chúng ta vượt qua quan niệm coi các chính sách xã hội là chính sách cho người nghèo, nhưng không bao giờ với người nghèo và cũng không bao giờ của người nghèo; lại càng không phải là một phần của một dự án có khả năng quy tụ con người lại với nhau.” Trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, “các phong trào khác nhau của công nhân, phụ nữ và giới trẻ, cũng như cuộc đấu tranh chống lại sự phân biệt chủng tộc, đã làm nảy sinh một sự trân trọng mới đối với phẩm giá của những người sống bên lề xã hội”, qua đó góp phần vào sự hình thành và phát triển Học thuyết Xã hội của Giáo hội, vốn có những cội rễ bình dân không thể bị lãng quên. Đây là một nhận định mạnh mẽ, nhìn nhận vai trò nền tảng của những người đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy trong việc diễn giải lại gia sản Kitô giáo trong bối cảnh công tác xã hội hiện đại, vốn chịu tác động của các hoàn cảnh kinh tế và văn hóa.
Họ đang xây dựng một cộng đoàn Giáo hội cởi mở và bao dung, không phải để tìm kiếm kẻ thù cần phải chiến đấu, nhưng để đồng hành và nâng đỡ những con người cụ thể, điều mà thế giới hôm nay cần hơn bao giờ hết.
Lucia Capuzzi
Hoài Ân
Nguồn tin: https://hdgmvietnam.com/
Copyright © 2021 Bản quyền thuộc về HỘI DÒNG NỮ ĐA MINH THÁI BÌNH
Đang online: 67 | Tổng lượt truy cập: 9,504,468