
Ngài gọi tôi là “người gìn giữ ngọn lửa.” Khi được bổ nhiệm làm người phụ trách phòng thánh của giáo xứ, tôi còn nhớ đã nhận được những chỉ dẫn từ cha sở. Trong số những hướng dẫn ấy có lời nhắc rằng tôi phải đặc biệt lưu tâm đến đèn chầu trong cung thánh, cố gắng giữ cho ngọn đèn luôn cháy sáng, chuyển ngọn lửa sang cây nến mới và phải làm điều đó trước khi cây nến cũ tắt hẳn.
Cha giải thích rằng ngọn lửa ấy được lấy từ Nến Phục sinh, và Nến Phục sinh lại được thắp từ lửa mới Phục sinh. Mục đích khi ấy (và cho đến nay vẫn vậy) là ngọn lửa ấy phải được chuyển sang mỗi cây nến chầu mới, như một ánh sáng không ngừng, cháy liên lỉ. Lịch sử phát triển của Nến Phục sinh trong Giáo hội có thể được truy nguyên từ thế kỷ II.
Nến Phục sinh
“Mặt trời đang lặn, và trái đất của chúng ta sắp chìm trong bóng tối. Giáo hội đã chuẩn bị một ngọn đuốc để lan tỏa ánh sáng của nó trên chúng ta suốt đêm canh thức dài này. Đó là một cây nến có kích thước đặc biệt lớn. Nó đứng riêng biệt, mang hình dáng như một cây cột. Đó là biểu tượng của Đức Kitô… Khi được thắp sáng, chúng ta phải nhận ra nơi đó vừa là cột lửa đã dẫn dắt dân Thiên Chúa, vừa là vinh quang của Đức Giêsu chúng ta đã phục sinh từ mồ.”[1] Nến Phục sinh là một lời nhắc nhở không ngừng về chiến thắng của Người, rằng Người đã sống lại.
Khoảng năm 150 sau Công nguyên, các Kitô hữu đã cử hành một đêm canh thức trước Chúa nhật Phục sinh kéo dài cho đến 3 giờ sáng (tiếng gà gáy), lúc ấy họ cử hành Thánh Thể. Đêm canh thức bắt đầu bằng việc thắp một ngọn đèn hoặc cây nến trong nghi thức được gọi là Lucernarium (nghi thức thắp đèn). Nghi thức này được cử hành quanh năm, nhưng đặc biệt long trọng hơn trong Đêm vọng Phục sinh. Nhiều Kitô hữu trong thời Giáo hội sơ khai đã tin rằng Đức Giêsu sẽ sớm quang lâm, có thể ngay trong đêm canh thức ấy:“Nửa đêm, có tiếng la lên: Kìa chàng rể, hãy ra đón Người!” (Mt 25,6). Từ cây nến lớn duy nhất được thắp sáng vào đầu buổi canh thức, các cây nến mà từng tín hữu cầm trên tay lần lượt được thắp lên. Dân Chúa đã thức suốt đêm trong cầu nguyện, và sau đó cử hành Bí tích Thánh tẩy.[2]
Sáp trắng tinh tuyền của Nến Phục sinh được hiểu như thân xác trong trắng của Đức Giêsu, tim nến tượng trưng cho linh hồn của Người, và ngọn lửa biểu trưng cho thần tính của Người. Cha Herbert Thurston (1856–1939) đã giải thích những đặc tính này như sau: “Vì thế, lớp sáp tinh khiết mà cây nến được làm nên tượng trưng cho thân xác thánh thiện của Đức Giêsu Kitô, thân xác mà Người đã lãnh nhận từ bản thể tinh tuyền của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Người. Không lạ gì khi lòng đạo đức của các nhà phụng vụ thời kỳ đầu đã nhận ra nơi tim nến hình ảnh linh hồn nhân loại của Đức Kitô, vì nếu không có linh hồn ấy, thân xác thánh thiện của Người sẽ bất động và không có sự sống; và nơi ngọn lửa thánh được đặt trên đỉnh, họ thấy hình ảnh của Ngôi Lời thần linh, Đấng từ trời ngự xuống để ban sự sống cho thế gian.”[3] Trong tác phẩm kinh điển The Visible Church, Cha John Sullivan (1861–1933) cũng đưa ra một lời giải thích đơn sơ: “Trong cây nến, lớp sáp trắng tinh tuyền tượng trưng cho thân xác vô tội của Đức Kitô. Tim nến được bao bọc trong sáp là hình ảnh linh hồn của Người; còn ngọn lửa tượng trưng cho bản tính thần linh kết hợp với bản tính nhân loại trong một Ngôi vị duy nhất.”[4] Màu trắng từ lâu đã là dấu chỉ của sự tinh tuyền và vô tội.
Những dấu khắc mà linh mục ghi trên Nến Phục sinh có nguồn gốc từ thời Giáo hội sơ khai, có lẽ xuất hiện đầu tiên tại Tây Ban Nha và Pháp, khi người ta khắc hình thánh giá trên lớp sáp. Các ký hiệu Alpha và Omega được thêm vào qua nhiều thế kỷ, phản ánh lời trong sách Khải huyền các chương 1, 21 và 22: “Ta là Alpha và Omega.” Năm hạt hương được gắn vào để biểu thị năm dấu đinh của Đức Kitô, đồng thời gợi nhớ đến các hương liệu mà những phụ nữ đạo đức đã dùng khi chuẩn bị thi hài Đức Giêsu để mai táng. Các con số ghi năm hiện tại được khắc vào từ khoảng thế kỷ VIII, diễn tả số năm tính từ mầu nhiệm Nhập Thể.[5] Đến thế kỷ XII, tất cả các dấu hiện nay đã được đưa vào.[6] Sách Lễ Rôma năm 2011 nói về các dấu Thánh giá, Alpha và Omega, cùng năm hiện tại theo cách cho thấy đây không phải là những yếu tố tùy chọn; trong khi đó, năm hạt hương có thể được gắn vào (Sách Lễ Rôma 2011, Đêm Vọng Phục sinh, tr. 345).
Phụng vụ Ánh sáng
Nghi thức thắp lửa ngoài nhà thờ trong Đêm vọng Phục sinh có thể được truy nguyên từ thời thánh Patrick vào thế kỷ V. Vào thời ấy, người ngoại giáo tại Ireland có tục lệ đốt những đống lửa lớn vào khoảng thời điểm xuân phân, để khẩn cầu các ngẫu thần của họ ban cho mùa gieo trồng thuận lợi và mùa màng sinh trưởng tốt tươi. Theo truyền thuyết, một vị vua địa phương đã ra lệnh rằng không ai được đốt lửa trước khi lửa của nhà vua được thắp lên. Thánh Patrick đã thách thức lệnh ấy và đốt lửa vào đêm trước lễ Phục sinh, như một lời công bố và tôn vinh mầu nhiệm Phục sinh trước khi lửa của nhà vua được châm. Các cận thần của nhà vua liền cảnh báo vua rằng phải mau chóng dập tắt ngọn lửa của Thánh Patrick, vì họ cho rằng ngọn lửa ấy sẽ cháy mãi và “người đã thắp nó sẽ được tôn cao hơn cả vua chúa và các bậc vương hầu.”[7] Khi Kitô giáo phát triển tại Ireland, việc thắp lửa vào đêm trước ngày Phục sinh cũng dần trở nên phổ biến; đến khoảng thế kỷ VIII, thực hành này từ từ lan rộng khắp châu Âu.
Từ khoảng thế kỷ X đến thế kỷ XII, việc thắp lửa bên ngoài nhà thờ trong Đêm vọng Phục sinh đã trở thành một phần của nghi thức Rôma. Ngọn lửa ấy được mang vào trong nhà thờ, nơi một cây nến lớn – Nến Phục sinh – được thắp sáng. Đến thời Trung cổ, cây nến này được giữ trong cung thánh cho đến lễ Chúa Thăng Thiên, rồi mới được cất đi. Trong một số nhà thờ, cây nến lại được thắp sáng vào ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.[8]
Ban đầu, linh mục thắp và làm phép lửa Phục sinh ở bên ngoài nhà thờ; sau đó ngọn lửa được mang vào bên trong, nơi Nến Phục sinh đã được đặt sẵn.Việc đặt nến sẵn trước đó ít nhất một phần là vì nhiều cây nến rất lớn, nặng đến hơn một trăm pound, nên không dễ di chuyển.[9] Sau khi ngọn lửa được mang vào nhà thờ, chính phó tế (hoặc linh mục thi hành vai trò phó tế) sẽ trang trí cây nến bằng các dấu hiệu phụng vụ, đồng thời ca tụng Đức Kitô Phục sinh bằng cách hát bài thánh ca cổ kính Exsultet. “Điều đáng chú ý là chính phó tế chứ không phải linh mục, hoặc trong các nhà thờ nhỏ, vị chủ tế trong tư cách phó tế chứ không phải linh mục, là người làm phép Nến Phục sinh, để biểu thị rằng không phải các Tông đồ, nhưng là những người khác, đã được trao đặc ân chuẩn bị thi hài của Đấng Cứu Thế, điều mà cây nến chưa được thắp sáng tượng trưng cho ngôi mộ thánh.”[10] Vai trò ban đầu này của phó tế còn được James L. Meagher (1848–1920) giải thích chi tiết hơn trong tác phẩm The Festal Year. Ông cho biết đây là một trường hợp ngoại lệ, khi chính phó tế chúc lành cho Nến Phục sinh thay vì linh mục hay giám mục. Meagher viết: “Đây là lý do [cho trường hợp ngoại lệ ấy]: các phụ nữ đạo đức đã đến ngôi mộ và loan báo sự phục sinh của Đức Kitô; như Thánh Âutinh và Thánh Gioan Kim Khẩu đã nói, thật thích hợp khi người phụ nữ – là người đầu tiên phạm tội – cũng là người đầu tiên loan báo rằng tội lỗi đã được xóa bỏ. Vì thế, vị phó tế trẻ, người tượng trưng cho phái yếu, chúc lành cho Nến Phục sinh. Trong khi tất cả các giáo sĩ khác đều mặc phẩm phục màu tím trong nghi thức làm phép lửa và nến, thì chỉ riêng phó tế mặc lễ phục màu trắng để tôn kính các phụ nữ thánh thiện đã báo tin cho các Tông đồ về sự phục sinh của Chúa chúng ta.”[11]
Ngày nay, Sách Lễ Rôma quy định rõ rằng linh mục làm phép lửa mới Phục sinh, ghi các dấu trên nến, rồi từ ngọn lửa mới ấy thắp và làm phép Nến Phục sinh, với lời nguyện: “Xin cho ánh sáng vinh quang Phục sinh của Đức Kitô xua tan bóng tối trong tâm hồn và tâm trí chúng con.” (Sách Lễ Rôma, Đêm vọng Phục sinh, số 346). Sau đó, phó tế cung nghinh cây nến tiến vào nhà thờ, với cộng đoàn tín hữu đi theo sau. Mang theo ánh sáng của Đức Kitô, gợi lại cột lửa mà dân Israel đã đi theo khi trốn khỏi tay người Ai Cập, phó tế tiến về cung thánh. Trên đường đi, ngài dừng lại ba lần và xướng: “Ánh sáng Chúa Kitô.” Cộng đoàn đáp: “Tạ ơn Chúa.” Sau đó, phó tế đặt cây nến vào giá bên cạnh giảng đài hoặc ở giữa cung thánh. Ngài xông hương cho cây nến và hát bài Exsultet (Sách Lễ Rôma, Đêm Vọng Phục sinh, số 346–347).
Bài Exsultet, được viết như một thánh thi chúc tụng, có nguồn gốc từ thế kỷ IV, và đến thế kỷ XII đã trở thành một phần của nghi thức Rôma.[12] Thuật ngữ này có nghĩa là “hãy hân hoan reo mừng”; trong bối cảnh này, đó là lời mời gọi cộng đoàn vui mừng, công bố và tôn kính Nến Phục sinh như biểu tượng của Đức Kitô Phục sinh.
Sau các bài đọc Cựu Ước trong Phụng vụ Lời Chúa của Đêm vọng Phục sinh, các chuông được rung lên, bài Alleluia và Vinh Danh được cất vang; rồi từ ngọn lửa của Nến Phục sinh, các nến trên bàn thờ được thắp sáng, nhưng đèn chầu trong cung thánh thì không được thắp từ ngọn lửa này.[13]
Phụng vụ Thánh tẩy
Từ lâu, các Kitô hữu đã cử hành Bí tích Thánh tẩy trong Đêm vọng Phục sinh, và Nến Phục sinh giữ một vai trò trung tâm trong nghi thức này. Cây nến vừa hiện diện trong nghi thức làm phép nước Thánh tẩy, vừa soi đường cho những người mới lãnh nhận bí tích. Nến Phục sinh tham dự vào việc chúc lành nước Thánh tẩy khi được nhúng vào nước. “Việc nhúng cây nến vào nước tượng trưng cho việc Đức Kitô đi xuống dòng sông Giođan để lãnh nhận phép rửa; còn việc nâng cây nến lên tượng trưng cho sự phục sinh của chúng ta, như hiệu quả của bí tích này, từ tình trạng tội lỗi bước vào đời sống ân sủng.”[14] Những cây nến trao cho những người vừa được rửa tội được thắp sáng từ Nến Phục sinh, biểu thị rằng các Kitô hữu mới này nay đang mang trong mình ánh sáng của Đức Kitô.“Cây nến, được thắp từ Nến Phục sinh, biểu thị rằng Đức Kitô đã soi sáng cho các tân tòng.” (Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1243)
Sau các nghi thức Thánh tẩy là Phụng vụ Thánh Thể. Khi việc hiệp lễ kết thúc, Mình Thánh Chúa được cung nghinh trở lại nhà tạm và đèn chầu trong cung thánh được thắp sáng từ Nến Phục sinh. “Vì việc lưu giữ Thánh Thể đã được tái lập, khăn phủ được đặt lại trên nhà tạm theo tập tục, và người giúp lễ thắp sáng đèn gần nhà tạm.”[15] Chính lúc này vai trò của “người gìn giữ ngọn lửa,” ngọn lửa không bao giờ tắt, trở nên rõ nét.
Vị trí và việc cất giữ – Nến Phục sinh
Giáo hội có những chỉ dẫn đặc biệt cho cây nến quý giá nhất này, dấu chỉ luôn hiện diện của Đức Kitô hằng sống: “Phải chuẩn bị Nến Phục sinh; để biểu tượng được diễn tả cách hữu hiệu, nến phải được làm bằng sáp thật, không bao giờ là chất liệu nhân tạo, phải được thay mới mỗi năm, chỉ có một cây duy nhất, và có kích thước đủ lớn để diễn tả chân lý rằng Đức Kitô là ánh sáng thế gian. Nến được làm phép với những dấu hiệu và lời nguyện được quy định trong Sách Lễ hoặc do Hội đồng Giám mục ấn định.” (Thư luân lưu Paschale Sollemnitatis, 1988, số 82)
Theo truyền thống, Nến Phục sinh được đặt gần bục giảng trong suốt mùa Phục sinh; tuy nhiên, cũng có thể đặt gần bàn thờ hoặc giữa cung thánh (Sách Lễ Rôma, Đêm Vọng Phục sinh, tr. 347). Nến luôn được đặt trang trọng và nổi bật trong mọi nhà thờ Công giáo. Trong nhiều thế kỷ, cây nến được tắt vào cuối bài Tin mừng của lễ Chúa Thăng Thiên, để tưởng niệm việc Đức Giêsu rời các Tông đồ mà trở về cùng Chúa Cha.[16] Điều này vẫn còn được giữ trong Thánh lễ Latinh truyền thống. Trong hình thức thông thường của thánh lễ, Nến Phục sinh được tắt vào lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống: “Khi mùa Phục sinh kết thúc, Nến Phục sinh được tắt. Nên giữ cây nến này cách trang trọng trong nhà rửa tội để được thắp sáng trong nghi thức Thánh tẩy, và nến của những người lãnh nhận bí tích được thắp từ đó.”(Sách Lễ Rôma, lễ Hiện Xuống ban ngày, tr. 457)
Thư luân lưu Paschale Sollemnitatis năm 1988, số 99, còn thêm: “Sau mùa Phục sinh, cây nến phải được giữ cách trang trọng trong nhà rửa tội, để trong nghi thức Thánh tẩy, nến của người lãnh nhận bí tích được thắp từ đó. Trong nghi thức an táng, Nến Phục sinh phải được đặt gần linh cữu để biểu thị rằng cái chết của người Kitô hữu là cuộc Vượt Qua của chính họ.”
Việc xử lý Nến Phục sinh cũ
Bản tin tháng 4 năm 2014 của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ cũng đưa ra hướng dẫn về việc xử lý Nến Phục sinh của năm trước. Cây nến này không được tái sử dụng và cũng không được vứt bỏ như vật thông thường. Nến có thể được gửi trả cho nơi cung cấp (nếu họ đồng ý) để được nấu chảy lại. Vì đây là một vật đã được làm phép, nên phải được xử lý cách xứng hợp. Điều này có thể bao gồm việc đốt nến trong bầu khí đạo đức (riêng tư, không trong nghi thức phụng vụ công khai), hoặc chôn cất nến trong phần đất đã được làm phép.
Tại sao được trưng bày quanh năm?
Tại sao Nến Phục sinh lại được trưng bày quanh năm? Tại sao không cất đi sau mùa Phục sinh và chỉ sử dụng trong các nghi thức Thánh tẩy và an táng? Câu trả lời ấy không chỉ đến từ các quy định của Giáo hội, nhưng ít nhất một phần còn được soi sáng bởi lời của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II (1978–2005). Ngài nói:“Chúng ta là dân Phục sinh, alleluia là bài ca của chúng ta”(Kinh Truyền Tin, 30.11.1986). Chúng ta mang trong tim niềm hy vọng và niềm vui của phép lạ Phục sinh suốt cuộc đời mình, chứ không chỉ riêng trong mùa Phục sinh.
Nến Phục sinh là một dấu chỉ hữu hình và bền vững nhắc nhớ niềm vui và hy vọng ấy, nhắc nhớ Chúa nhật Phục sinh, nhắc nhớ chiến thắng của Đức Kitô trên sự chết:“Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu? Hỡi tử thần, nọc độc của ngươi ở đâu?”(1 Cr 15,55). Mỗi lần bước vào nhà thờ, chúng ta thấy cây nến được đặt bên cạnh giếng rửa tội, nhắc cho chúng ta nhớ rằng nhờ bí tích Thánh tẩy, chính chúng ta cũng sẽ được sống lại. Cây nến này được dành để luôn ở lại nơi danh dự của nó, như dấu chỉ huy hoàng của Đấng Cứu Thế Phục sinh, khẳng định rằng Người đang sống.
Việc giải thích ý nghĩa của Nến Phục sinh tại hầu hết các giáo xứ thường chỉ giới hạn trong một ngày hoặc một khoảng thời gian của năm phụng vụ. Giáo lý cũng hiếm khi trình bày chi tiết về cây nến này. Thực vậy, tất cả chúng ta, các tín hữu sẽ được ích lợi rất nhiều nếu thường xuyên có thêm những suy niệm, trao đổi, bài giảng giúp khám phá vẻ đẹp của biểu tượng này, lịch sử gắn liền với hình ảnh đầy sức mạnh ấy, cây nến trường tồn nhất trong đời sống phụng vụ của Giáo hội.
Hoài Ân, chuyển ngữ
Nguồn tin: https://hdgmvietnam.com/
[1] Prosper Dom Gueranger, The Liturgical Year: Passion Time and Holy Week (J. Duffy Dublin, 1867), p. 56.
[2] James Monti, A Sense of the Sacred (Huntington, IN: Our Sunday Visitor, 2012), p. 458–459.
[3] Fr. Herbert Thurston, “The Exultet and the Paschal Candle,” The Month, April 1896, p. 510–511.
[4] Fr. John F. Sullivan, The Visible Church (New York: P. J. Kennedy & Sons, 1920), p. 159.
[5] Monti, A Sense of the Sacred, p. 471.
[6] Monti, A Sense of the Sacred, p. 478.
[7] Fr. William B. Morris, The Life of St Patrick of Ireland (London: Burns and Oates, 1888), p. 179.
[8] E. G. Cuthbert F. Atchley, The Churchman’s Glossary of Ecclesiastical Terms (London: A. R. Mowbray and Co., 1923), p. 135.
[9] Fr. A.A. Lambing, The Sacramentals of the Holy Catholic Church (New York: Benziger Bros., 1892), p. 222.
[10] Lambing, Sacramentals, p. 225.
[11] Fr. James L. Meagher, The Festal Year, Or, The Origin, History, Ceremonies and Meaning of the Sundays, Seasons, Feasts and Festivals of the Church During the Year, Explained for the People (New York: Russell Bros, 1883), p. 273.
[12] Monti, A Sense of the Sacred, p. 478.
[13] Peter J. Elliott, The Ceremonies of the Liturgical Year (San Francisco: Ignatius Press, 2002), n. 285.
[14] Fr. William J. Berry, Sacramentals of the Holy Catholic Church (London: Thomas Richards and Sons, 1879), p. 126–127.
[15] Elliott, The Ceremonies of the Liturgical Year, n. 308.
[16] D. Atwater, ed., A Catholic Dictionary (New York: Macmillan Co.), p. 35.
Copyright © 2021 Bản quyền thuộc về HỘI DÒNG NỮ ĐA MINH THÁI BÌNH
Đang online: 40 | Tổng lượt truy cập: 10,092,485