Suy niệm Tin mừng Chúa Nhật Phục Sinh - Năm A (Ga 20, 1-9)

  • 08/04/2023 10:37
  • Ông đã thấy và đã tin

     

    1. Bài đọc 1:  Cv 10, 34a. 37-43

    “Chúng tôi đã ăn uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại”.

    Trích sách Tông đồ Công vụ.

    Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: “Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Ðấng người ta đã giết treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Và Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết. Mọi tiên tri đều làm chứng về Người rằng: Tất cả những ai tin vào Người, thì nhờ danh Người mà được tha tội”.

    Đó là Lời Chúa.

     

    2.  Đáp ca:  Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23

    Ðáp:  Ðây là ngày Chúa đã lập ra, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó

    Hoặc đọc: Alleluia.

    Xướng:

    1)  Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: “Ðức từ bi của Người muôn thuở”.

    2)  Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa.

    3)  Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta.

     

    3. Bài đọc 2: Cl 3, 1-4

    “Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự”.

    Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.

    Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Ðức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Ðức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Ðức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang.

    Đó là Lời Chúa.

     

    4.  Ca Tiếp Liên

    (Ðọc trong Chúa Nhật Phục Sinh, còn các ngày khác trong tuần Bát nhật thì không buộc đọc)

    Các Kitô hữu hãy tiến dâng

    lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua.

    Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên mẹ:

    Ðức Kitô vô tội đã hoà giải tội nhân với Chúa Cha.

    Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ,

    tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị.

    Hỡi Maria, hãy nói cho chúng tôi nghe

    bà đã thấy gì trên quãng đường đi?

    Tôi đã thấy mồ Ðức Kitô đang sống

    và vinh quang của Ðấng Phục Sinh,

    thấy các thiên thần làm chứng,

    thấy khăn liệm và y phục.

    Ðức Kitô là hy vọng của tôi đã phục sinh,

    Người đi trước chư vị tới xứ Galilêa.

    Chúng tôi biết Ðức Kitô đã sống lại thật từ cõi chết!

    Lạy Chúa, Vua chiến thắng, xin thương xót chúng con.

     

    5.  Tin Mừng:  Ga 20, 1-9

    “Ông đã thấy và đã tin”.

    Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

    1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ.

    2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

    3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ.

    4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước.

    5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào.

    6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi.

    8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin.

    9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

    Đó là Lời Chúa.

     

    6. Suy niệm: 

    6. 1  Hãy trỗi dậy -  TGM Giuse Vũ Văn Thiên

    Thánh sử Luca kể lại: sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần,  những người phụ nữ đạo đức ra nơi phần mộ đã an táng Chúa Giêsu. Họ muốn thực hiện những nghi thức tẩm liệm theo phong tục của người Do Thái, vì buổi chiều thứ Sáu, việc tháo đanh và táng xác được thực hiện quá vội vàng, nên họ chưa làm được. Khi thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ, họ đã bước vào và không thấy xác Chúa Giêsu, nhưng lại thấy hai người đàn ông mặc y phục sáng chói. Hai người này nói: Sao các bà lại tìm người sống ở giữa những kẻ chết? Người không còn ở đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi…” (x. Luc 24,1-7).

    Trỗi dậy!” là động từ được dùng để diễn tả việc Chúa Giêsu phục sinh. Động từ này vừa có nghĩa “thức dậy”, vừa có nghĩa “vùng lên”. Một người đang nằm, trỗi dậy, tức là người đó tự mình ngồi dậy hay đứng lên mà không cần nhờ đến sự can thiệp hay giúp đỡ của người khác. Chúa Giêsu phục sinh là tự Người trỗi dậy từ trạng thái của một người đã chết. Chúng ta cũng có thể nói như thánh Phêrô trong bài giảng đầu tiên vào ngày lễ Ngũ tuần: Thiên Chúa đã làm cho Người ((Đức Giêsu) sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi (x. Cv 2,24). Chúa Giêsu vừa “được” Thiên Chúa làm cho sống lại, vừa tự “trỗi dậy” từ nấm mồ tối tăm để phục sinh vinh quang, vì Người là chủ của sự sống. Chính Người đã tuyên bố: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10,18).

    Chúa Giêsu trỗi dậy từ nấm mồ. Đây là khởi điểm của một giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ. Có tác giả so sánh Chúa Giêsu an nghỉ trong mộ, giống như Ađam ngủ say ở khởi đầu lịch sử. Trong lúc Ađam ngủ, Thiên Chúa đã rút chiếc xương sườn của ông để làm nên người phụ nữ. Chính trong giấc ngủ của Chúa Giêsu mà Giáo Hội của Người được sinh ra và khởi đầu. Khi Ađam tỉnh giấc, ông nhìn thấy bà Evà và tuyên bố: đây là xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi. Điều đó nói lên sự bình đẳng, ngang hàng và gắn bó. Khi Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết, Người kéo cả nhân loại, từ Ađam, từ âm ty (còn gọi là ngục tổ tông hay nơi ở của những người đã chết, theo quan niệm của người Do Thái) cùng trỗi dậy với Người. Vết thương tự cạnh sườn Chúa đã chữa lành vết thương ở cạnh sườn của Ađam. Cái chết của Chúa trên thập giá đã tiêu diệt sự chết nơi toàn thể nhân loại. Chúa Giêsu là Ađam mới. Nếu Ađam thứ nhất là nguyên nhân của sự chết, thì Ađam mới, hay Ađam sau cùng như lối nói của một số nhà thần học, lại là nguồn mạch của sự sống.

    Khi trỗi dậy khỏi nấm mồ tăm tối, Chúa Giêsu mở cánh cửa hy vọng cho nhân loại. Quả vậy, qua sự phục sinh sáng láng của Người, chúng ta nhìn thấy tương lai của chính mình. Tương lai đó là sự phục sinh thân xác vào ngày tận cùng của thời gian. Tương lai đó cũng là sự sống vĩnh cửu Chúa dành cho những ai tin cậy, phó thác và yêu mến Người. Cuộc phục sinh của Chúa cũng nói với chúng ta về phẩm giá của con người. Bởi lẽ con người được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa. Cuộc sống này không thể chỉ kết thúc ở nấm mộ. Một số người Do Thái đã giết hại Chúa vì họ cho rằng Chúa là một người phản loạn. Giết được Chúa Giêsu, các kỳ lão và biệt phái vui mừng vì diệt được một đối thủ. Tuy vậy, Chúa Giêsu không ngủ yên trong nấm mộ. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc những bất công và mưu mô, dù mạnh mẽ đến mấy, cũng không thể trường tồn trên thế gian. Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết. Tình yêu đã chiến thắng hận thù và Chân lý đã chiến thắng dối gian. Chúa Giêsu phục sinh khẳng định với thế giới rằng, những mưu mô nhằm vu oan và làm hại người khác xem ra có đem lại thành công trước mắt, nhưng không đứng vững lâu dài. Những gì dối trá tất yếu sẽ bị vạch mặt và mưu mô gian ác phải cáo chung.

    Người Kitô hữu tin vào Chúa Giêsu, Đấng đã chết và phục sinh. Thánh Phaolô nhấn mạnh đến ý nghĩa đời sống của người tín hữu, đó là chết với Chúa Giêsu để được sống lại với Người. Trong các tác phẩm của mình, Thánh Phaolô không nhắc lại một phép lạ nào của Chúa Giêsu, nhưng ông luôn nhấn mạnh tới biến cố Phục sinh. Dưới cái nhìn của một người được đào tạo bài bản trong truyền thống biệt phái, ông nhận ra hình ảnh của chiên vượt qua, xuyên qua cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Thánh Phaolô gọi Chúa Giêsu là Chiên Vượt Qua mới. Từ nay, chiên vượt qua mà người Do Thái giết trong Đền thờ chiều ngày thứ Sáu, trước ngày Sa-bát, không còn ý nghĩa gì nữa, hoặc nếu còn thì chỉ là biểu tượng ôn lại quá khứ. Chính Chúa Giêsu là Chiên Vượt qua đích thực đã chịu sát tế. Máu người đổ ra, không chỉ giúp cho người Do Thái thoát chết khi Sứ thần đi ngang qua trong đêm Thiên Chúa giải phóng người Do Thái khỏi Ai Cập, nhưng máu Chiên Vượt Qua mới sẽ thanh tẩy toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ hay bất cứ dị biệt nào.

    “Hãy trỗi dậy những ai ngủ mê!”. Người Kitô hữu được mời gọi chuẩn bị tâm hồn từ đầu Mùa Chay để cử hành lễ Phục sinh. Như thế, Phục sinh không phải một ngày hội, cũng không phải một nghi thức tưởng niệm một biến cố đã lùi vào dĩ vãng xa xưa. Phục sinh là một tiến trình cải hóa bản thân, canh tân cuộc đời. Kết thúc chuỗi dài của những ngày sám hối, khổ chế, canh tân là được sống lại với Đức Giêsu trong một cuộc sống mới, chan hòa yêu thương thay chỗ cho giận ghét hận thù, đầy ắp hy vọng thay vì ảm đạm chán chường, gắn kết liên đới thay vì ích kỷ tầm thường. Người tín hữu, khi mừng lễ Phục sinh cũng được mời gọi trỗi dậy với Chúa Giêsu. Như trên đã nói, Chúa Giêsu vừa được Thiên Chúa cho sống lại, vừa tự Người trỗi dậy từ nấm mồ. Trong tiến trình nên hoàn thiện, người tín hữu luôn cậy trông vào sự nâng đỡ của Chúa, nhưng đồng thời họ cũng cộng tác phần mình bằng thiện chí cố gắng nỗ lực. Bởi lẽ, “khi Thiên Chúa dựng nên chúng ta, Người không cần đến chúng ta. Nhưng khi Thiên Chúa muốn cứu chuộc chúng ta, Người lại cần đến sự cộng tác của chúng ta” (Thánh Augustinô). Nói như thế không có nghĩa là Thiên Chúa bất lực, nhưng muốn nói lên sự tự do cộng tác của con người trong tiến trình hoàn thiện. Tình yêu không phải là điều bắt buộc, cưỡng ép, nhưng là tự nguyện chấp nhận với trái tim rộng mở chân thành. Tình yêu chỉ đạt tới viên mãn, khi có thiện chí từ hai phía, nếu không, mãi mãi chỉ là tình yêu đơn phương.

    Năm nay, chúng ta mừng lễ Phục sinh trong một bối cảnh rất đặc biệt chưa có tiền lệ, do đại dịch viêm phổi Vũ Hán (COVID-19). Tính đến hôm nay (11-4-2020), trên thế giới đã có khoảng 1,6 triệu người dương tính với virus Corona. Số người chết đã lên tới trên 100 ngàn người. Trên toàn thế giới, lễ nghi Tuần thánh và Phục sinh được cử hành cách đơn giản. Các tín hữu dự lễ qua trực tuyến. Tuy vậy, nếu không có những cuộc rước ồn ào, thì mỗi chúng ta lại có thể lắng đọng tâm hồn trong tĩnh lặng để suy tư và lắng nghe tiếng Chúa rõ hơn. Là những người tin vào quyền năng Thiên Chúa, chúng ta phó thác nhân loại trong cánh tay yêu thương của Ngài. Như Đức Giêsu đã trỗi dậy từ ngôi mồ tăm tối, chúng ta tin rằng Thiên Chúa sớm đẩy lùi dịch bệnh. Sớm muộn thì dịch bệnh cũng qua đi, điều còn lại sẽ là rất nhiều thay đổi trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Có những thay đổi tích cực, nhưng cũng có những thay đổi tiêu cực. Dịch bệnh toàn cầu COVID-19 làm cho chúng ta nhận ra cuộc sống này rất mong manh nhưng thật là quý giá. Trong những ngày này, các thành viên trong gia đình liên kết gắn bó với nhau hơn. Người ta sống có trách nhiệm hơn đối với môi trường và công ích. Giữa những khó khăn đại nạn, có nhiều nghĩa cử nhân ái, đậm tính nhân văn để giúp đỡ nhau, nhất là nâng đỡ những người sa vào cảnh khó khăn vật chất trong lúc dịch bệnh. “Trỗi dậy” trong ngày lễ Phục sinh, chính là thay đổi quan niệm khô khan và buồn tẻ về cuộc sống, để cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho ta sự sống, ban cho ta gia đình và những người bạn bè để chia sẻ yêu thương. “Trỗi dậy” cũng chính là những nỗ lực cố gắng để cùng với mọi người xây dựng một xã hội nhân ái, chứa chan tình Chúa và thấm đậm tình người.

     

    6. 2  TGM Giuse Nguyễn Năng

    Sự chết và Phục Sinh của Ðức Giêsu đều nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Kinh Thánh đã tiên báo về Ngài. Ðức Giêsu chết để nhân loại chôn vùi tội lỗi cùng với cái chết của Ngài. Ðức Giêsu Phục Sinh để sự sống Thần Linh của Ðức Giêsu sống động trong tâm hồn mọi người. Ðức Giêsu Phục Sinh đã tái lập sự sống mới trên trần gian. Sự sống mới là sự sống chan hòa yêu thương. Vì tình yêu đã chiến thắng hận thù. Sự đen tối của màn đêm phải lui xa, nhường lại thế giới cho ánh bình minh tươi sáng. Khởi đầu một ngày mới, một trời mới đất mới xuất hiện. Trong niềm hân hoan chúng ta reo vui. Alleluia.

    Cầu nguyện: Lạy Ðấng Phục Sinh, xin đem niềm vui đến trong tâm hồn chúng con. Chúa đã chết để đem sự sống mới cho chúng con. Xin đừng để chúng con mải mê ngủ vùi trong tội lỗi, nhưng biết vùng dậy để đón mừng Mặt Trời Công Chính tươi sáng chiếu rọi vào tâm hồn chúng con. Cùng với Ðức Giêsu Phục Sinh, chúng con reo vui cuộc chiến thắng khải hoàn. Amen. Alleluia.

    Ghi nhớ: “Người phải sống lại từ cõi chết”.

     

    6.3   Hy vọng giữa gian lao -  TGM Giuse Vũ Văn Thiên

    Cái chết và nấm mồ là kinh nghiệm đau thương và là nỗi lo sợ lớn nhất của kiếp người. Người nghèo chết, người giàu cũng phải chết. Chẳng ai thoát khỏi cái chết mặc dù sợ hãi và trốn tránh nó. Nói đến cái chết, chúng ta đứng trước một bức màn bí ẩn và đặt câu hỏi: bên kia bức màn đó là gì? Sau khi chết con người sẽ như thế nào? Đã bao thế hệ, người ta tìm cách đưa ra những giả thuyết khác nhau về thân phận con người sau khi chết.

    Chúa Giêsu là Thiên Chúa, đồng thời cũng là con người. Một số thủ lãnh và người dân Do Thái đã kết án tử cho Người phải chết bằng hình thức đóng đinh vào thập giá. Trên cây thập giá, Người đã chết. Cả bốn tác giả Tin Mừng đều xác nhận điều này. Đối diện với cái chết, Chúa Giêsu cũng lo sợ đến nỗi máu nhỏ thành giọt, lúc Người cầu nguyện trong vườn Cây Dầu. Người cũng muốn trốn tránh nó, như lời Người thưa cùng Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu con thể được, xin cất chén này xa con”. Tuy vậy, tình yêu mến Người dành cho Chúa Cha lại vượt xa nỗi lo sợ. Vì vậy, Người tiếp lời: “Nhưng xin đừng theo ý con, một theo ý Cha”. Như thế cái chết của Chúa Giêsu là cái chết tự nguyện, vì vâng lời Chúa Cha và vì yêu thương loài người.

    Như bao người khác, Chúa Giêsu đã chết. Nhưng nếu những người đã chết chịu đóng khung trong nấm mộ tăm tối và thân xác mục nát theo thời gian, thì thân xác Chúa Giêsu lại không chấp nhận quy luật ấy. Người là Con Thiên Chúa hằng sống. Người có quyền trên sự sống và sự chết, như chính Người đã tuyên bố khi sinh thời. Hơn thế nữa, Người chính là sự sống và là sự sống lại. Trước đó, qua hình ảnh hạt lúa gieo xuống đất chấp nhận mục nát để nảy mầm sinh bông kết trái, Chúa Giêsu đã có ý chỉ về cái chết của chính mình. Các tác giả Tin Mừng đều kể lại với chúng ta, mỗi người mỗi cách, nhưng cùng chung một nội dung là Chúa Giêsu đã sống lại vào ngày thứ ba, kể từ khi bị đóng đinh và chết trên thập giá. Sự phục sinh của Chúa là ánh sáng bừng lên giữa tối tăm, tình yêu trao gửi giữa hận thù và hy vọng bừng lên giữa gian lao.

    Đó là niềm hy vọng trước hết cho các môn đệ và những người phụ nữ đạo đức, đã theo Chúa khi người còn ở trần gian. Cái chết của Chúa làm cho họ hoang mang. Một vài người trong họ hoàn toàn thất vọng và đã lên đường về quê. Niềm vui tràn đầy nhanh chóng thay thế cho sự lo buồn thất vọng. Tác giả Tin Mừng Gioan đã kể lại kinh nghiệm cá nhân của mình vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần. Ông đã kết luận trình thuật ngôi mồ trống bằng chính điều ông trải nghiệm: “Ông đã thấy và tin”. Đức tin của ông từ nay đã rõ ràng, được kiểm chứng và trải nghiệm. Ông đã chắc chắn Đức Giêsu, vị Thày khôn ngoan của ông là Thiên Chúa, Đấng đã sống lại từ cõi chết. Người trỗi dậy từ nấm mồ tăm tối, là kinh nghiệm thê thảm nhất của kiếp nhân sinh, để từ nay chiếu sáng huy hoàng dẫn đưa nhân loại về bến bờ bình an.

    Giáo Hội năm nay có một Mùa Chay đặc biệt và một lễ Phục sinh cũng đặc biệt, đó là tình trạng dịch bệnh viêm phối Vũ Hán, hay còn gọi là COVID-19.  Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu không còn là câu chuyện do các tác giả Tin Mừng kể lại. Cuộc khổ nạn này cũng không dừng lại ở nghi thức phụng vụ, nhưng đó là kinh nghiệm cụ thể về mạng sống của bao người bị COVID-19 cướp đi. Cho đến hôm nay, trên thế giới đã có khoảng 1,5 triệu người nhiễm dịch và khoảng 100 ngàn người đã chết. Người ta còn nói đến đỉnh của dịch bệnh sẽ đến trong nay mai. Nhân loại đang trải qua nỗi kinh hoàng ghê gớm. Nhiều người đã đồn đoán về ngày tận thế. Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đang tiếp diễn nơi những bệnh nhân, nơi thân nhân gia đình và xã hội đang gồng mình để chống dịch, giảm thiểu sức lây lan và tàn phá của con virus bé nhỏ mắt thường không nhìn thấy. Không thể thống kê được thiệt hại do dịch bệnh gây ra. Kể cả vào lúc dịch bệnh chấm dứt, chúng ta phải mất nhiều năm mới khôi phục những hậu quả của đại dịch, trong mọi lãnh vực, nhất là lãnh vực kinh tế.

    Dưới lăng kính Kitô giáo, chúng ta nhận ra gương mặt của Đấng chịu đóng đinh nơi những người đau khổ bệnh tật trong xã hội hôm nay. Chúa Giêsu hiện diện với họ để nâng đỡ, chữa lành tâm hồn cũng như thân xác. Trong lúc hoảng loạn tăm tối này, chúng ta tin vào quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa, với lòng tín thác cậy trông Chúa sẽ ban ơn chữa lành và thế giới sẽ trở lại bình an. Như Đức Giêsu đã chết và đã phục sinh, mỗi chúng ta cũng tin rằng, Thiên Chúa sẽ sớm đưa nhân loại thoát khỏi đại họa, và giúp chúng ta khôi phục cuộc sống. Đó là niềm hy vọng giữa gian lao, hy vọng bừng lên từ nấm mồ trống mà Gioan và Phêrô đã được chiêm ngắm.

    Ngôi mộ trống là chứng từ hùng hồn về mầu nhiệm Phục sinh. Hôm nay, mỗi Kitô hữu cũng hãy là chứng nhân của Chúa Phục sinh đang hiện diện trong cuộc đời. Đây là lệnh truyền của Chúa, như lời khẳng định của Thánh Phêrô: “Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết” (Bài đọc I). Sự Phục Sinh của Chúa là một sứ điệp hy vọng, cần loan báo cho con người mọi nơi, mọi thời. Những ai đã lãnh nhận phép Thanh Tẩy đều là những sứ giả loan tin vui Phục Sinh. Như Phêrô, Mácđala và Gioan, mỗi người có cách loan báo riêng của mình, nhưng nội dung của lời loan báo luôn luôn là Chúa Giêsu phục sinh, chúng ta cũng vậy, mỗi người có hoàn cảnh riêng, những khó khăn và thuận lợi riêng, nhưng đều có sứ mạng loan báo Đấng Phục Sinh, Đấng đang sống và đang hiện diện giữa chúng ta.

    Đa Minh Thái Bình, tổng hợp

    6.4  Ông đã thấy và đã tin - Tập sinh ĐMTB

    Đứng trước cái chết của Thầy Giêsu, nỗi buồn đã bao trùm cuộc sống nơi những người thân tín của Ngài. Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan cho chúng ta chiêm ngưỡng những thái độ khác nhau nơi bà Maria Mácđala, Phêrô và người môn đệ Chúa yêu, trước biến cố Chúa sống lại. Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật. Vì yêu thương nhân loại, Ngài đã chấp nhận cái chết trên thập giá và đã thực sự phục sinh. Dù khi còn sống, Ngài đã nhiều lần loan báo điều này, rằng Ngài sẽ sống lại và chiến thắng tội lỗi để cứu độ nhân loại, nhưng khi biến cố xảy ra, các môn đệ vẫn không khỏi hoang mang và bối rối. Bà Maria ra viếng mộ Chúa, nhưng khi không thấy xác Ngài, bà đã nghĩ rằng người ta đã đem xác Chúa đi mất, nên vội vã chạy về báo tin cho các môn đệ.

    Ngôi mộ trống trở thành dấu chỉ đầu tiên của một thực tại mới – thực tại của sự sống đã chiến thắng sự chết. Phêrô và người môn đệ kia cùng chạy ra mộ, diễn tả một khát khao tìm kiếm sự thật. Dù không trực tiếp thấy Chúa, nhưng qua những dấu chỉ như băng vải và khăn liệm được xếp lại, người môn đệ Chúa yêu “đã thấy và đã tin”. Quả thật, Chúa Giêsu không áp đặt đức tin, nhưng mời gọi con người tìm kiếm, khám phá và tự do đáp lại bằng niềm tin.

    Đứng trước mầu nhiệm Phục Sinh cao cả, trong đời sống hằng ngày, chúng ta cũng không thấy Chúa bằng mắt thường. Nhưng chúng ta được mời gọi nhận ra Ngài qua những dấu chỉ, qua các biến cố, ngay cả trong những đau khổ mà đôi khi ta cho là vô nghĩa. Khi cử hành mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giêsu, chúng ta không chỉ tưởng niệm một biến cố lịch sử đã xảy ra hơn hai ngàn năm trước, nhưng đang cử hành một thực tại sống động, một hy tế cứu độ vẫn đang tiếp diễn trong đời sống Hội Thánh.

    Nhân loại hôm nay vẫn còn chìm trong bóng tối của đam mê và tội lỗi, nhiều khi trong cuộc sống chúng ta cũng phải đối diện với những đêm đen, bóng tối, thất vọng đau đớn của bệnh tật, khó khăn trong đời sống cá nhân, gia đình, cộng đoàn. Có những lúc tưởng chừng như muốn buông xuôi, không còn cảm nhận được ý nghĩa của cuộc sống. Thật vậy nhìn vào cuộc sống đã có nhiều bạn trẻ đã tìm đến cái chết khi không thấy ý nghĩa của cuộc đời. Là người kito hữu chúng ta cần xác tín rằng, Chúa phục sinh là dấu chứng cho ta niềm hy vọng. Thiên Chúa vẫn không ngừng tuôn đổ tình yêu của Ngài, mở ra cho con người một con đường mới: từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ tội lỗi đến ân sủng, từ cái chết đến sự sống.

    Hôm nay, khi cùng với Hội Thánh cử hành đại lễ Phục Sinh, sau hành trình Mùa Chay và Tuần Thánh, mỗi người chúng ta được mời gọi nhìn lại đời sống đức tin của mình. Tôi và bạn có dám rời bỏ những an toàn, những khuôn mẫu cũ kỹ để tìm kiếm và nhận ra Chúa đang hiện diện sống động trong cuộc đời không? Tâm hồn chúng ta có đang bị lấp đầy bởi những điều khác, khiến Chúa không còn chỗ trong đó?

    Chúa đã sống lại thật! Alleluia! Xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta, để chúng ta biết mở lòng đón nhận ánh sáng Phục Sinh, nhận ra Chúa trong đời sống thường ngày, và can đảm làm chứng rằng: Chúa đã phục sinh.

     

    Bài viết liên quan